Vietcombank lại điều chỉnh phí dịch vụ ngân hàng

Sau một thời gian gây xôn xao việc nâng một số phí dịch vụ, Vietcombank mới đây tiếp tục ra thông báo điều chỉnh biểu phí dịch vụ Mobile BankPlus áp dụng từ ngày 15/4/2018.

  • 02-03-2018 Bên cạnh tăng phí vài dịch vụ, Vietcombank cũng miễn và giảm nhiều loại phí...
  • 01-03-2018 Không chỉ tăng phí dịch vụ SMS Banking lên 11.000 đồng, từ hôm nay Vietcombank...
Cách đây 2 tuần, việc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) chính thức áp dụng biểu phí dịch vụ mới trong đó có nhiều loại phí tăng lên đã gây nhiều chú ý và tranh cãi trong dư luận. 
Mới đây, ngân hàng này lại tiếp tục thông báo điều chỉnh biểu phí mới cho riêng dịch vụ Mobile Bankplus, bắt đầu áp dụng từ 15/4/2018. 
So với biểu phí dịch vụ Mobile Bankplus đang được áp dụng tại Vietcombank hiện nay, ngân hàng này sẽ bắt đầu thu một số loại phí thay vì miễn phí như trước. Tuy nhiên, cũng có giảm ở một số dịch vụ.  
Vietcombank tiếp tục điều chỉnh biểu phí dịch vụ ngân hàng, có tăng có giảm ở một số loại phí - Ảnh 1.
Biểu phí áp dụng từ 15/4 cho dịch vụ Bankplus
Cụ thể, các giao dịch chuyển khoản trong cùng hệ thống Vietcombank qua Mobile BankPlus bắt đầu thu phí từ ngày 15/4 với mức phí áp dụng lần lượt là 2.000 đồng/giao dịch và 5.000 đồng/giao dịch tùy theo khoản tiền giao dịch dưới 50 triệu đồng hay trên 50 triệu đồng. 
Trong khi đó, phí chuyển khoản cho người hưởng tại ngân hàng khác được điều chỉnh giảm từ 11.000 đồng/giao dịch xuống còn 7.000 đồng/giao dịch đối với khoản tiền dưới 10 triệu đồng. Các giao dịch chuyển khoản cho tài khoản ngân hàng khác trên 10 triệu sẽ tính phí theo tỷ lệ 0,02% số tiền chuyển, tối tối thiểu 10.000 đồng, tối đa là 1 triệu đồng/giao dịch.
Vietcombank tiếp tục điều chỉnh biểu phí dịch vụ ngân hàng, có tăng có giảm ở một số loại phí - Ảnh 2.
Biểu phí đang được áp dụng hiện tại của Vietcombank
Hải Vân
Theo Trí thức trẻ

Doanh nghiệp muốn nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp cần điều kiện gì?

Không có quy định rằng tổ chức kinh tế khi nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp phải có văn bản chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.


Theo quy định tại Điều 191, Điều 193 Luật Đất đai: "Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt".

 Doanh nghiệp muốn nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp
                               phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Ảnh minh họa
Ông Nguyễn Trường Giang (Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận) hỏi: Pháp luật đất đai không quy định cụ thể nên tôi không rõ tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp có cần phải có văn bản chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hay không?
Về vấn đề này, Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:
Điều 193 Luật Đất đai đã quy định về điều kiện để tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Trong đó có điều kiện: "Có văn bản chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án".
Trong khi đó, Khoản 29, Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai không có quy định về việc phải có văn bản chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
(Theo Chinhphu.vn) 

Đất chưa có sổ đỏ có được bán hoặc xin giấy phép xây dựng không?

Hỏi: Tôi có mua giấy tay một mảnh đất rộng 112m2 vào năm 2010. Mảnh đất này thuộc thửa đất của ông Trần T.K đã có sổ đỏ. Tôi phải làm gì nếu muốn bán mảnh đất này hoặc xin giấy phép xây dựng nhà ở?

Mai Thị Kiều (phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Tp.HCM)
Đất chưa có sổ đỏ sẽ không được cấp phép xây dựng hoặc bán cho người khác. Ảnh minh họa

Trả lời:

Điều 106 Luật Đất đai năm 2003 (tương ứng với trường hợp của bà Kiều mua đất bằng giấy tay vào năm 2010) có nêu quy định: "người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất với điều kiện đất có sổ đỏ, không có tranh chấp…" Căn cứ theo quy định này, bà Kiều phải làm thủ tục xin cấp sổ đỏ thì mới được bán mảnh đất nêu trên.
Còn về việc cấp giấy phép xây dựng đã được nêu tại Điều 11, Thông tư số 15 ban hành ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về cấp phép xây dựng, hồ sơ đề nghị cấp phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ. Theo đó, hồ sơ xin cấp phép gồm: Đơn (theo mẫu); bản sao một trong những giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai...
Đối chiếu với quy định trên, trong trường hợp bà Kiều chưa có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì sẽ chưa thể xin giấy phép xây dựng nhà ở trên mảnh đất nói trên của bà.
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
(Theo SGĐT) 

Khi nào vợ có quyền thay chồng ký tên vào giấy bán đất?

Hỏi: Gia đình tôi bán một mảnh đất và đã nhận được 100 triệu tiền đặt cọc. Nhưng khi làm thủ tục sang tên thì chồng tôi phải đi cấp cứu. Quyền sở hữu mảnh đất thuộc về hai vợ chồng tôi nhưng chồng tôi bị hôn mê nên không thể ký giấy tờ sang tên được.

Luật sư cho tôi hỏi, tôi có thể thay chồng ký tên vào giấy bán đất và nhận tiền không?
(Nguyễn Hoa)

Trả lời:

tài sản chung vợ chồng
Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định cụ thể về việc
giao dịch tài sản chung của vợ chồng. Ảnh minh họa
Việc giao dịch tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
"Điều 26. Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng
1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi".
Cùng với đó, khi vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự, việc đại diện vợ chồng được quy định tại Khoản 3 Điều 24 như sau:
"Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan".
Trong trường hợp của bạn, căn cứ theo những quy định trên, bạn phải gửi đơn lên tòa án đề nghị tòa tuyên bố chồng bạn có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22, 23 Bộ luật dân sự. Cùng với đó, tòa án sẽ chỉ định bạn là người giám hộ cho chồng.
Sau khi có chỉ định của tòa án, bạn có quyền đại diện cho chồng để tiến hành chuyển nhượng phần tài sản của người chồng trong khối tài sản chung của hai vợ chồng.
Luật sư Đỗ Trọng Linh
Công ty Luật Bảo An, Hà Nội
(Theo Vnexpress) 

Vợ có được một mình đứng tên mua nhà làm tài sản riêng không?

tài sản chung của vợ chồng
Quyền sử dụng đất vợ, chồng có được sau khi kết hôn được coi là
tài sản chung của hai vợ chồng. Ảnh minh họa: Internet


Hỏi: Tôi muốn mua một căn nhà do chỉ mình tôi đứng tên vì tôi dùng tiền của tôi để mua, chồng không đóng góp gì. Vậy xin hỏi tôi phải làm thế nào và làm sao để chứng minh được đó là tài sản của mình tôi?

Phùng Lệ Hương (phường 1, quận Phú Nhuận, Tp.HCM)

Trả lời:

Tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Trong đó, Khoản 1 nêu rõ:
"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng".
Căn cứ theo quy định trên, số tiền do chính bản thân chị tích góp được để chuẩn bị mua nhà vẫn được xem là tài sản chung của hai vợ chồng mặc dù chồng chị không đóng góp gì. Nguyên nhân là do số tiền này có được trong thời kỳ hôn nhân.
Chị vẫn có thể đứng tên sở hữu căn nhà một mình nếu chồng chị có thỏa thuận hoặc cam kết bằng văn bản (được công chứng, chứng thực hợp pháp) rằng căn nhà đó là tài sản riêng của chị.
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
(Theo Sài Gòn đầu tư tài chính)